Những bài văn hay

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm "Vợ nhặt"

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH

A) MỞ BÀI


- “Vợ nhặt” được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện dài “Xóm ngụ cư”, rút ra từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện ngắn không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

->  Đó cũng chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

B) THÂN BÀI

I. Khái quát

1. Khái quát về giá trị nhân đạo


- Là gì?

+ Hạt nhân: lòng yêu thương con người.

+ Đối tượng: thường là nỗi khổ.

- Biểu hiện: 3 khía cạnh cơ bản.

+ Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, bất hạnh.

+ Tố cáo các thế lực gây ra đau khổ cho con người.

+ Phát hiện, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người bất hạnh.
Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những khía cạnh có sự biến đổi phong phú, linh hoạt. Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương sâu sắc, Ngô Tất Tố khám phá ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống, thuỷ chung, không tì vết; Kim Lân phát hiện ra nét nữ tính và khát vọng hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợ nhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao - Mị…


- Vai trò:

+ Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn
“Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong
cốt tuỷ” (Biêlinxki)

+ Là một trong những dấu hiệu của một tác phẩm giàu giá trị (Văn học là nhân học. Nghệ thuật chỉ có nghĩa khi hướng tới con người, yêu thương con người).

2. “Vợ nhặt”

- Tóm tắt cốt truyện: Vợ Nhặt là câu chuyện được Kim Lân xây dựng trong bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945; Tràng một người dân nghèo ngụ cư lấy được vợ, khiến cả xóm nghèo và người mẹ - bà cụ Tứ ngạc nhiên, lo âu và vừa vui chen lẫn buồn. Trong bữa cơm gia đình đạm bạc kham khổ, giữa những ngày đói u ám, trong óc Tràng hiện lên những cảnh người nghèo đói kéo nhau trên đê sộp, đằng trước có lá cờ đỏ to lắm...

- Tình huống truyện: Tràng lấy được vợ, lại có vợ “theo” nữa. Chuyện ấy ở người khác, ở hoàn cảnh khác thì chẳng có gì đặc biệt. Nhưng ở anh cu Tràng, trong hoàn cảnh của anh ta, thì thật lạ lung, thậm chí khó tin là thực.

II. Cụ thể
1. Cái nhìn sâu sắc và tấm lòng nhân hậu trước khát vọng của con người.


- Tác phẩm mở ra với bối cảnh đổi thay to lớn đầy nghịêt ngã của cuộc sống con người khi nạn đói lịch sử vào năm 1945 tràn tới. Nó trở thành một hội chứng can thiệp vào cuộc sống, đập vỡ biết bao nhiêu mái ấm, xô đẩy con người đến thế giới tử thần, thay đổi nếp sống cách nghĩ, vốn văn hoá thuần phác trong sáng của người Việt.

- Nhân vật Tràng xuất hiện với sự biến đổi lớn, từ Tràng vui tính được trẻ con yêu mến giờ câm lặng tiều tuỵ kiệt sức "đi từng bước mệt mỏi … đầu chúi về phía trước" và cô gái (Vợ Tràng sau này) vì đói mà mất tính cách với hành động bê tha và hình dáng tiều tụy lam lũ. Thế giới người đói hiện lên dưới ngòi bút nhà văn "Cái lều chợ đầy những người bồng bế dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, sáng nào cũng thấy ba bốn cái xác người chết nằm ngổn ngang".

- Tràng nhặt được vợ: Khát vọng âm ỉ cứ bền bỉ cháy trong các số phận nhân vật.

+ Trước tiên là khát vọng sống vẫn âm thầm cháy nơi cô gái. Bốn bát bánh đúc rõ ràng không phải là nguyên nhân khiến cô gái chung thân với Tràng, dường như cô tìm thấy ở Tràng có sự loé sáng hy vọng, đó là niễm tin dầu mơ hồ về một tổ ấm có thể được tạo dựng. Chính đó là niềm tin của người đàn bà yếu đuối suy sụp mất hết hy vọng sống vào sức mạnh nâng đỡ của người đàn ông và tình yêu sẽ chắp cánh cho cô bay qua cõi chết.

+ Còn Tràng, sự liều lĩnh của anh cũng không thuần thuý chỉ là sự liều lĩnh của một gã trai, mà nó còn là khát vọng. Đấy là khát vọng muốn có vợ, điêù mà mẹ anh bất lực không làm nổi, điều mà thực tế đen tối không cho phép thì Tràng đã quyết định để đạt được. Có thể còn có những băn khoăn nhưng, Tràng với quyết định ấy, muốn chứng tỏ bản năng người đàn ông của mình , tin và hy vọng vào cuộc sống mới ở trong tương lai.

=> Chính những khát vọng nhân văn ẩn khuất nơi đáy sâu con người ấy với những mong muốn tồn tại và cuộc sống hạnh phúc dù rất đời thường nhỏ nhoi, ở thời điểm mà mọi người không nhìn thấy, thậm chí chỉ thấy màu xám xịt bất lực buông xuôi, thì nó lại được Kim Lân cảm được và hiện ra bằng những trang viết giàu sức gợi . Rõ ràng, trái tim của nhà văn đã chan hòa vào nhịp đập nơi những con tim nhỏ bé giữa không gian thời gian đè nặng bóng tử thần để cùng rung lên những khát khao những điều ao ước tốt đẹp hơn. Ngòi bút Kim Lân khi viết những tình tiết này đã tạo dựng được trang văn giục giã lòng người chống lại định mệnh và chữa lại định mệnh.

2. Lòng yêu thương trân trọng với những người bất hạnh

a) Nụ cười nở bên cái chết

- Cuộc dắt díu nhau về làng của hai người bất hạnh được miêu tả đầy ấn tượng. Giá trị nhân đạo được toả ra từ những những dòng văn tươi vui dí dỏm. Tràng đưa vợ về làng, tất nhiên không giống như chuyện vu quy bái tổ cờ xe võng lọng, song cuộc hành trình của lứa đôi cũng không hề bị rẻ rúng, niềm vui ngập tràn trong truyện. Kim Lân đã tỏ ra nhạy cảm và tinh tế khi khám phá tâm trạng cảm nhận hạnh phúc của Tràng. Hơn 20 lần truyện nhắc đến nụ cười của Tràng lúc thì phởn phơ, khi tủm tỉm, khi bật cười thành tiếng.

Đi bên cạnh một cô gái, gầy đói, rách như tổ đỉa, tuyệt nhiên không gợi lên trong Tràng một chút coi thường hay khinh rẻ hoăc xấu hổ. Ngược lại nhờ cô gái mà anh quên hết những cảnh sống ê chề,tối tăm hằng ngày quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ. Đó là gì, nếu không phải chính cô gái , như niềm hạnh phúc trong tầm tay, là nguồn ấm áp kề bên sưởi ấm cái cô đơn giá lạnh trong anh?

- Cô gái không hề có mặc cảm về thân phận "bị nhặt", cô đi bên Tràng với niềm tự hào sự ngang bằng, cô giễu anh "còn bé lắm đấy" mắng anh là "đồ khỉ gió" phát đen đét vào lưng anh, khoặm mặt lại... Những đoạn văn như thước phim hiện thực về tình yêu lứa đôi bay qua cái nền xám lạnh của nạn đói. Kim Lân đã để cho nhân vật cô gái hiện đầy đủ sức mạnh chế át người đàn ông đang yêu như bất cứ một cô gái xinh đẹp có đầy đủ tư cách nào. Tràng và cô vợ nhặt thực sự hướng về nhau thích thú nhau như mọi đôi tình nhân khác trên cõi đời đang ở đỉnh say mê hoan lạc. Cái cách miêu tả này không thua kém bất cứ những dòng văn lãng mạn nào viết về lứa đôi. Khám phá được tình cảm ấy của con người khốn khổ để họ xuất hiện trên những trang văn ngập tràn niềm vui và hạnh phúc, Kim Lân đã tỏ ra là hiểu và thông cảm và cao hơn là trân trọng những con người bất hạnh. Ở thời điểm, khi mà một số cây bút coi họ là những người tầm thường thì Kim Lân đã nhìn nhận họ là những con người bình thường, khi mà kẻ thù dân tộc biến họ thành những xác chết thì Kim Lân tìm thấy và vớt họ lên ở phẩm chất con người ham sống và khát khao hạnh phúc, đó là chất nhân văn của ngòi bút Kim Lân.

b) Hôn nhân của Tràng đem lại sinh khí cho làng ngụ cư

- Kim Lân đã bố trí cuộc trở về của cặp vợ chồng qua trước mắt mọi người trong làng. Cuộc rước dâu có một không hai ấy lại không rơi vào bi kịch mà ngược lại nó lại mang đến bầu sinh khí cho cả không gian cái làng đầy tử khí.

Trẻ con gào lên "chông vợ hài"; và người lớn "những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống khao khát và tối tăm của họ". Rõ ràng cuộc hôn nhân kỳ lạ của Tràng đã tạo ra những âm thanh vui nhộn làm bừng sáng niềm yêu thương trong làng ngụ cư vốn như những nhà mồ hoang lạnh với những sinh linh đang tuyệt vọng trong cơn đói khát.

Sự kết hợp liều lĩnh của Tràng và cô gái trở thành một thách thức lớn quyết liệt của khát vọng sống còn và hạnh phúc trước ý thức của xã hội làng ngụ cư đã tê liệt vì đói. Thách thức ấy, là ngọn gió xua đuổi tà khí u mê vây bủa con người của làng và làm cho tâm hồn con người nơi đây rạng rỡ hơn và le lói hy vọng sống.